web sex

bonline lua dao

Giai phap IMS sex

imsvietnamese sex

webmobilegiare sex

bonline sex

Giai phap IMS lua dao

tracdiamiennam sex

maytracdia-faco sex

maydodac sex

web sex

webmobilegiare lua dao

thiet ke web 24h lua dao

thiet ke web 24h lua dao

mempop lua dao

thiet ke web 24h lua dao

tracdiamiennam lua dao

web sex

maytracdia-faco lua dao

web sex

maydodac lua dao

mempop sex

thiet ke web 24h lua dao

imsvietnamese lua dao

khoa van tay cao cap

web sex

thiet ke web gia re lua dao

thiet ke web 24h lua dao

thiet ke web gia re lua dao

Trang chủGiới thiệu › Giới thiệu chung
Giới thiệu chung
9 10 2014

Giới thiệu chung

Thứ ba, 26.02.2013 15:12

Trung tâm Phát triển công nghệ cao là đơn vị sự nghiệp thuộc Nghị định số 108/2012/NĐ-CP ngày 25/12/2012 của Chính phủ.


 
 
ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ

Nhà 2B, Khu Sản xuất thử nghiệm công nghệ Nghĩa Đô, số 18 Hoàng Quốc Việt, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội

Điện thoại: 04. 37916281
Fax: 04. 37916283
Email: vanthu@htd.vast.vn
 
LÃNH ĐẠO

Tổng Giám đốc:

TS. Nguyễn Văn Thao

Phó Tổng Giám đốc:

TS. Lê Đồng Tấn

 

ThS. Phạm Duy Súy

 

 

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

 1. Quá trình hình thành   

        Đầu thập kỷ 90, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, đất nước ta phải có bước phát triển mới, phù hợp với điều kiện thực tế. Một trong những bước phát triển quan trọng của Việt Nam là đẩy mạnh phát triển khoa học và công nghệ, nhằm góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời từng bước đưa đất nước có vị trí về khoa học công nghệ trong khu vực và trên trường quốc tế.

        Xuất phát từ định hướng trên, Viện Khoa học Việt Nam (được thành lập tại Nghị địnhsố 118-CP ngày 20/5/1975của Hội đồng Chính phủ) được Nhà nước giao nhiệm vụ không chỉ tập trung cho nghiên cứu cơ bản mà còn tập trung cho nghiên cứu phát triển công nghệ. Ngày 22/5/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 24/1993/NĐ-CP thành lập Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, trên cơ sở tổ chức lại Viện Khoa học Việt Nam. Nhiều Viện nghiên cứu có định hướng nghiên cứu cơ bản được chuyển sang nghiên cứu phát triển công nghệ, nhiều đơn vị trực thuộc Trung tâm được thành lập mới với mục tiêu hướng nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn phục vụ xã hội. Ngay từ khi được tăng cường nhiệm vụ, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia đã nhận thấy cần phải có môi trường cụ thể để thực hiện việc ươm tạo công nghệ, thử nghiệm và hoàn thiện công nghệ, hỗ trợ các tập thể, cá nhân các nhà khoa học thực hiện hóa ý tưởng khoa học và biến các kết quả từ phòng thí nghiệm thành công nghệ, sản phẩm cụ thể. Trên cơ sở đó, một số Khu thử nghiệm, thực nghiệm công nghệ được hình thành như: Khu thử nghiệm công nghệ Thủ Đức, Trại thực nghiệm sinh học Thạnh Lộc, Trại thực nghiệm sinh học Cổ Nhuế…Các Khu này là những bước đi đầu để thực hiện chủ trương phát triển công nghệ của Nhà nước giao cho Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia. Tuy nhiên bởi nhiều khó khăn còn tồn tại như: vốn đầu tư, kinh nghiệm tổ chức, quản lý, khó khăn về chính sách đất đai…các Khu thử nghiệm, thực nghiệm trên chưa thực sự được phát huy cao. Rút kinh nghiệm của quá trình thực hiện ban đầu, đồng thời xuất phát từ nhu cầu bức thiết về môi trường và điều kiện thử nghiệm, hoàn thiện, ươm tạo công nghệ, triển khai công nghệ của cán bộ khoa học thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); năm 1998, Giám đốc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia đã giao nhiệm vụ cho Ban quy hoạch thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia xây dựng đề án thành lập “Khu Thử nghiệm Công nghệ của Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia” và tập trung xây dựng Khu Thử nghiệm Công nghệ Nghĩa Đô làm mô hình điển hình, phục vụ nhu cầu sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ của các đơn vị tại Khu vực Hà Nội, nơi tập trung phần lớn các Viện nghiên cứu, các nhà khoa học và công nghệ của Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia. Năm 2008, Khu Thử nghiệm công nghệ Nghĩa Đô đã cơ bản được hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng, Khu có diện tích đất khoảng 10.000m2 và diện tích sàn khoảng 10.000m2 .

        Để quản lý Khu Thử nghiệm Công nghệ Nghĩa Đô và các Khu thử nghiệm công nghệ khác của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Nghị định 27/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 đổi tên Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ Quốc gia thành Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đồng thời thực hiện công tác ươm tạo, nghiên cứu phát triển và hỗ trợ triển khai công nghệ, ngày 15/01/2009, Chủ tịch Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam ký Quyết định số 34/QĐ-KHCNVN thành lập Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Công nghệ và Dịch vụ và Quyết định số 35/QĐ-KHCNVN ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Hỗ trợ phát triển Công nghệ và Dịch vụ. Trung tâm được giao 3 nhóm nhiệm vụ chính sau:

      - Quản lý, khai thác, tổ chức triển khai quy hoạch các Khu Sản xuất thử nghiệm công nghệ của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (trong đó bao gồm Khu Sản xuất thử nghiệm công nghệ Nghĩa Đô).

      - Tổ chức công tác ươm tạo, hỗ trợ các hoạt động thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ tại các Khu thử nghiệm công nghệ; nghiên cứu phát triển và triển khai công nghệ tại các Khu thử nghiệm công nghệ.

      - Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hợp tác trong và ngoài nước nhằm khai thác, phát triển công nghệ.

2. Quá trình phát triển Trung tâm từ 2009 đến nay

       Trải qua 5 năm nỗ lực phấn đấu, đến nay Trung tâm Phát triển công nghệ cao đã trở thành một đơn vị quản lý vững vàng, một Trung tâm khoa học công nghệ hội tụ nhiều nhà khoa học và thực hiện xuất sắc nhiều nhiệm vụ được giao.

Công tác quản lý:

       Kể từ khi thành lập, Trung tâm đã xây dựng hệ thống các chế tài nhằm phục vụ việc quản lý, khai thác Khu Sản xuất thử nghiệm công nghệ Nghĩa Đô. Hiện nay, Khu Sản xuất thử nghiệm công nghệ Nghĩa Đô là một cơ sở thử nghiệm, một vườn ươm công nghệ điển hình, quy củ nhất của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Bên cạnh đó, Trung tâm tích cực triển khai: Khu ươm tạo công nghệ, Khu Nghiên cứu và triển khai công nghệ Cổ Nhuế. Từ hiệu quả của công tác quản lý, trong những năm qua, chất lượng và số lượng cán bộ (đặc biệt cán bộ có trình độ cao) được phát triển nhanh chóng, cơ sở vật chất không ngừng được tăng cường. Nội bộ Trung tâm luôn là một tập thể gắn bó, đoàn kết, đời sống vật chất và tinh thần ngày một nâng cao. Trung tâm đã huy động kinh phí để thanh toán khoản hỗ trợ đền bù, giải phóng mặt bằng trong quá trình xây dựng Khu thử nghiệm công nghệ Nghĩa Đô bị tồn nợ từ nhiều năm trước, đồng thời thực hiện tái đầu tư phát triển (cải tạo cảnh quan, duy trì và sữa chữa khu thử nghiệm công nghệ Nghĩa Đô) giá trị hàng tỷ đồng. Tháng 10/2013, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ra Quyết định chuyển Viện Nghiên cứu khoa học Tây Bắc thành Trung tâm Phát triển công nghệ Tây Bắc. Trung tâm đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức, xây dựng Quy chế tổ chức hoạt động và các mặt hoạt động khác của Trung tâm Phát triển công nghệ Tây Bắc. Đến nay, Trung tâm Phát triển công nghệ Tây Bắc đã ổn định tổ chức và đang dần từng bước củng cố và phát triển. Tháng 12/2013, Chủ tịch Viện ra Quyết định thành lập Trung tâm Phát triển và ứng dụng công nghệ môi trường trực thuộc Trung tâm Phát triển công nghệ cao; tháng 6/2016 Chủ tịch Viện ra Quyết định thành lập Trung tâm Vật lý Chất mềm và vật lý sinh học; tháng 8/2016 Giám đốc Trung tâm Phát triển công nghệ cao ra Quyết định đổi tên Phòng Phát triển công nghệ hóa môi trường thành Trung tâm Phát triển công nghệ Hóa học nông nghiệp, nâng tổng số đơn vị (gồm các Phòng, Xưởng, Trung tâm) là 13 đơn vị trực thuộc Trung tâm Phát triển công nghệ cao.

LỰC LƯỢNG CÁN BỘ

     Hiện tại, Tổng số người làm việc tại Trung tâm là 117người, gồm: 04Giáo sư, Tiến sỹ; 08Phó giáo sư, Tiến sỹ; 24Tiến sỹ; 20Thạc sỹ; 39 Đại học; 22trình độ khác.

   Trong tổng số 117người, có 85 người làm việc chính nhiệm (full time), số người làm việc kiêm nhiệm (part time) là 32. Trong số cán bộ làm việc chính nhiệm có: 02GS, TS;12TS;16 ThS;33 ĐH;22trình độ khác.
 
CÁC HOẠT ĐỘNG THƯỜNG XUYÊN CỦA ĐƠN VỊ

a. Công tác quản lý tại các Khu thử nghiệm công nghệ, Khu nghiên cứu triển khai công nghệ:

- Quản lý cơ sở hạ tầng (gồm đất, nhà, công trình kiến trúc trên đất, điện, nước, cầu đường, thiết bị hạ tầng kỹ thuật...) tại các Khu công nghệ được Viện Hàn lâm KHCNVN giao;

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các công việc: Cải tạo, sửa chữa và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng;

- Thực hiện công tác bảo vệ, vệ sinh môi trường, an toàn phòng chống cháy nổ tại các Khu công nghệ;

b. Hoạt động nghiên cứu, ươm tạo, phát triển khoa học công nghệ

- Nghiên cứu, ươm tạo, phát triển các công nghệ cao, triển khai thực hiện các đề tài, dự án, nhiệm vụ khoa học công nghệ thuộc các lĩnh vực: Vật liệu tiên tiến; Hoá học, hoá môi trường; Sinh học, Y – Sinh; Thiết kế, chế tạo thiết bị - phụ tùng thay thế, dịch vụ kỹ thuật.

- Nghiên cứu, điều tra cơ bản các vấn đề về môi trường, tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp sinh thái và công nghệ sinh học, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, quy hoạch, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên vùngTây Bắc. Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ, xây dựng các quy trình công nghệ, chuyển giao công nghệ vào đời sống và sản xuất cho vùng Tây Bắc.

c. Các hoạt động hợp tác, liên kết, đào tạo, triển khai khoa học công nghệ

- Hợp tác, liên kết với các tổ chức, tập thể, cá nhân, các doanh nghiệp, các đơn vị liên quan trong và ngoài Viện Hàn lâm nhằm ươm tạo, nghiên cứu phát triển, triển khai ứng dụng khoa học công nghệ, thương mại hóa các sản phẩm khoa học công nghệ theo nhu cầu của thị trường;

- Tổ chức các hoạt động dịch vụ khoa học công nghệ, hỗ trợ các đơn vị, đề tài, dự án, chương trình tại các Khu thử nghiệm công nghệ;

- Tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông khoa học công nghệ;

- Tham gia đào tạo nguồn nhân lực (cán bộ kỹ thuật, công nghệ) có trình độ cao.

HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Năm 2016, Trung tâm Phát triển công nghệ cao đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nổi bật là:

Về Khoa học công nghệ:

Tiếp tục triển khai và hoàn thành dự án KHCN trọng điểm cấp Viện Hàn lâm KHCNVN và nhiều đề tài, dự án, nhiệm vụ KHCN các cấp trong đó nổi bật là:

* Nhiệm vụ KHCN cấp Nhà nước:

- Tiếp tục triển khai và hoàn thành 3 đề tài thuộc Chương trình Tây Nguyên 3: “Nghiên cứu phát triển và ứng dụng một số chế phẩm có nguồn gốc sinh học trong canh tác chè, cà phê, hồ tiêu theo hướng phát triển bền vững tại Tây Nguyên”, mã số TN3/C01; “Nghiên cứu phát triển công nghệ chiếu sáng LED phục vụ nông nghiệp Tây Nguyên”, mã số TN3/C09; “Nghiên cứu kỹ thuật trồng, phát triển một số loài thuộc chi Nưa (Amorphophallus Blume ex Decne) và quy trình công nghệ chế biến glucomannan tại Tây Nguyên”, mã số TN3/C11. Cả 3 đề tài đã  nghiệm thu cấp Nhà nước, xếp loại Khá;

- Tiếp tục triển khai thực hiện đúng tiến độ dự án quốc tế “Phát triển và thúc đẩy công nghệ LED cho chiếu sáng chung ở Việt Nam” do Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) thông qua Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tài trợ không hoàn lại.

* Đề tài KHCN cấp Viện Hàn lâm KHCNVN

- Tiếp tục triển khai và hoàn thành dự án KHCN trọng điểm cấp Viện Hàn lâm KHCNVN “Nghiên cứu phát triển công nghệ và chế tạo vật liệu mới ứng dụng trong An ninh - Quốc phòng” gồm 03 hợp phần: Hợp phần 1 “Nghiên cứu phát triển công nghệ chế tạo vật liệu tổ hợp bền, nhẹ, ứng dụng trong sản xuất các thiết bị, dụng cụ đặc chủng trang bị cho người lính”, mã số VAST.TĐ.AN-QP.01/14-16; Hợp phần 2 “Nghiên cứu công nghệ chế tạo một số chủng loại hợp kim vonfram ứng dụng làm lõi đạn xuyên động năng trong quân sự”, mã số VAST.TĐ.AN-QP.02/14-16; Hợp phần 3 “Nghiên cứu ứng dụng vật liệu nano trong dầu bôi trơn tản nhiệt cho trang thiết bị quân sự”, mã số VAST.TĐ.AN-QP.03/14-16. Cả 3 hợp phần đều vượt tiến độ 6 tháng và đã nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm, xếp loại Xuất sắc.

Về xây dựng tiềm lực KHCN:

- Thực hiện dự án “Tăng cường trang thiết bị phục vụ ươm tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ trong lĩnh vực vật liệu đặc biệt tại Trung tâm Phát triển công nghệ cao”.

- Thực hiện giai đoạn cuối dự án “Khu ươm tạo công nghệ Viện Hàn lâm KHCNVN”.

- Hoàn thành dự án cải tạo: Xây cổng, gara xe đạp-xe máy, nhà bảo vệ và xử lý sụt trượt tại Trung tâm Phát triển công nghệ Tây Bắc.

Thông tin xuất bản & sở hữu trí tuệ

- Trong năm 2016, đã có 05 bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế; 24 bài báo đăng trên tạp chí khoa học quốc gia; 01 sách chuyên khảo “Ăn mòn và bảo vệ bê tông cốt thép”.

- Đã được cấp 01 Bằng độc quyền sáng chế “Phương pháp chế tạo xi măng nanocompozit từ clinker - nanoclay hữu cơ”, số bằng 12671 do Cục Sở hữu trí tuệ cấp ngày 28/11/2016.

- Xây dựng và ban hành 08 tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn của Bộ Công an và tiêu chuẩn trong lĩnh vực an ninh TCVN-AN cho: Lá chắn chống đạn súng tiểu liên AK47; Áo phao chống đạn súng ngắn K54; Áo phao chống đạn súng tiểu liên AK47); Bộ ốp che tay; Mũ đặc chủng dùng trong công an nhân dân; Tấm tăng cường cho áo giáp chống đạn súng tiểu liên AK47; Tấm chống đạn súng trung liên PKMS; Bộ ốp mềm bảo vệ chân.

Ứng dụng KHCN trong năm 2016

- Nghiên cứu, chế tạo phao áo kết hợpvật liệu nổi với vật liệu chống đạn để có thể vừa chống đạn vừa có khả năng nổi trên mặt nước với độ bền, tính nổi, khả năng chịu lửa, khả năng chịu dầu đạt TCVN 7282: 2008 cho phao áo cứu sinh. Đã thiết kế, chế tạo, đánh giá chất lượng, thiết lập qui trình công nghệ sản xuất áo phao chống đạn súng ngắn K54, áo phao chống đạn súng tiểu liên AK47 trên cơ sở vật liệu polyme nanocompozit.  Áo phao chống đạn là trang thiết bị cần thiết cho người lính, đặc biệt là các chiến sỹ Hải quân và lực lượng an ninh – quốc phòng khi làm nhiệm vụ trên biển và hải đảo, góp phần bảo vệ tính mạng, giảm thương vong cho các chiến sỹ. Kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao công nghệ cho Viện Kỹ thuật Hóa học, Sinh học và Tài liệu nghiệp vụ (đơn vị được Bộ Công an giao tiếp nhận) để triển khai sản xuất hàng loạt cung cấp cho lực lượng vũ trang.

- Nghiên cứu, chế tạo tấm chống đạn súng trung liên PKMS sử dụng vật liệu tổ hợp mới gia cường bằng vật liệu nano có độ bền cao, nhẹ có khả năng chống được đạn súng Trung liên PKMS và súng bắn tỉa, phục vụ an ninh - quốc phòng. Tấm chống đạn súng Trung liên PKMS là chi tiết cần thiết cho việc sản xuất áo giáp chống đạn trang bị cho người lính khi làm nhiệm vụ chiến đấu, góp phần bảo vệ tính mạng, giảm thương vong cho các chiến sỹ. Kết quả nghiên cứu sẽ được chuyển giao công nghệ cho Viện Kỹ thuật Hóa học, Sinh học và Tài liệu nghiệp vụ (đơn vị được Bộ Công an giao tiếp nhận) để triển khai sản xuất hàng loạt cung cấp cho lực lượng vũ trang.

- Nghiên cứu chế tạo thành công Lõi đạn xuyên chống tăng 85mm từ hợp kim cứng WC – Ni bằng công nghệ thiêu kết có ép nóng đẳng tĩnh bổ sung. Việc nghiên cứu chế tạo thành công lõi đạn xuyên 85 mm đã nâng cao khả năng tự chế hoàn chỉnh đạn xuyên chống tăng 85 mm của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu có thể phát triển lên quy mô sản xuất hàng loạt khi được chuyển giao công nghệ cho các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng - Bộ Quốc Phòng.

- Nghiên cứu chế tạo thành công Lõi xuyên dùng cho đạn 7,62x39 (đạn súng AK) từ hợp kim cứng WC - Ni bằng công nghệ thiêu kết có ép nóng đẳng tĩnh bổ sung, đạt mật độ > 14,7 g/cm3, độ cứng > 1400 HV và độ dai > 22 Mpa.m-1/2. Kết quả nghiên cứu có thể phát triển lên quy mô sản xuất hàng loạt khi được chuyển giao công nghệ cho các nhà máy thuộc Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng - Bộ Quốc Phòng.

- Nghiên cứu chế tạo dầu bôi trơn tản nhiệt nanô cho động cơ trang thiết bị quân sự giúp nâng cao độ dẫn nhiệt của dầu, làm giảm ma sát, qua đó giảm mài mòn, tăng công suất động cơ, tiết kiệm nhiên liệu, kéo dài thời gian sử dụng dầu, giảm khí thải độc hại và nâng cao tuổi thọ và độ bền cho động cơ đốt trong. Sản phẩm đã được Trường Sỹ quan Lục quân I (Bộ Quốc Phòng) và Đoàn 384 (Cục Xe Máy - Tổng Cục Kỹ Thuật) đặt hàng. Tập thể nghiên cứu đã đề xuất phương án để triển khai sản xuất sản phẩm dầu bôi trơn tản nhiệt nanô trong giai đoạn tiếp theo.

- Xây dựng được phương pháp chế tạo xi măng nanocomposite từ clinke - nanoclay hữu cơ. Phương pháp đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp Bằng độc quyền sáng chế số 16271 ngày 28/11/2016. Sản phẩm xi măng nanocompozit được chế tạo là một loại vật liệu mới có khả năng tăng cường tính năng chống thấm (đạt cấp độ chống thấm B12 theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN), nâng cao cường độ cho bê tông để xây dựng các công trình quan trọng như: các đê kè thủy lợi, đập thủy điện, hầm ngầm, tòa nhà cao tầng, các công trình chống thấm khí oxi … Phương pháp chế tạo có thể được chuyển giao cho các cơ sở sản xuất xi măng để áp dụng ở quy mô sản xuất lớn dựa trên nguồn nguyên liệu và thiết bị có sẵn, không cần phải đầu tư thêm, tạo ra một sản phấm xi măng mới có tính ứng dụng cao trong thực tiễn.  

Cập nhật ngày 13/3/2017

[Trở về] [Đầu trang] In bài viết Gửi cho bạn bè

Các tin khác:
  

Get Flash to see this player.

LIÊN KẾT
Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam
Dự án chiếu sáng LED
Xưởng Cơ khí - Điện tử
THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người online:   0001
Lượt truy cập   225353
ung dungluu tru du lieu video tren mang tot nh?t dich vuluu tru video tren mang tot nhat tong hoptop video hosting sites tot nhat top nhungvideo hosting mien phi on dinh nhat chuyen cung capchuong cua co hinhhan quoc cao cap huong dan su dungstreaming video serverchi tiet live broadcast software mactot nhat cung capkhoa van tay cao cap chinh hang